• thanhnguyen056

THỜI GIỜ LÀM VIỆC VÀ LÀM THÊM GIỜ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2019

Updated: Apr 22

Bộ luật Lao động 2019 (BLLĐ 2019), sửa đổi bổ sung phiên bản năm 2012 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2019 và CÓ HIỆU LỰC vào ngày 01/01/2021. Tại Bộ luật phiên bản sửa đổi lần này, vấn đề về thời giờ làm việc và làm thêm giờ có những thay đổi đáng kể nào không?

Dưới đây là cập nhật của Lawlink Việt Nam liên quan đến những thay đổi này.

1. Thời giờ làm việc và làm thêm

Về thời giờ làm việc của người lao động (NLĐ), theo quy định tại Điều 105 BLLĐ 2019, thời giờ làm việc bình thường của NLĐ không quá 08 giờ/ngày và không quá 48 giờ/tuần (duy trì như BLLĐ 2012).

Đối với một số người lao động đặc biệt, thời giờ làm việc được quy định cụ thể như sau:

- Người chưa đủ 15 tuổi: không quá 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần (Điều 146.1 BLLĐ 2019).

- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: không quá 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần (Điều 146.2 BLLĐ 2019).

- Người lao động cao tuổi: thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian (Điều 148.2 BLLĐ 2019).

- Lao động nữ trong thời gian hành kinh: được nghỉ mỗi ngày 30 phút trong thời gian làm việc (Điều 137.4 BLLĐ 2019).

- Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi: được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc (Điều 137.4 BLLĐ 2019).

- Người làm công việc có tính chất đặc biệt theo quy định tại Điều 116 BLLĐ 2019: Bộ, ngành quản lý quy định cụ thể thời giờ làm việc sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Ngoài thời gian làm việc bình thường, theo nhu cầu thực tế về việc sử dụng lao động và kế hoạch sản xuất, kinh doanh; pháp luật cho phép các bên trong quan hệ lao động được làm thêm giờ. Việc làm thêm giờ được chia thành hai trường hợp là: làm thêm giờ trong trường hợp bình thường và làm thêm giờ trong trường hợp đặc biệt.

Thứ nhất, làm thêm giờ trong trường hợp bình thường được quy định tại Điều 107 BLLĐ 2019. Theo đó, việc làm thêm giờ được xem là đúng pháp luật khi đáp ứng hai điều kiện sau:

(i) CÓ SỰ ĐỒNG Ý giữa Người sử dụng lao động ("NSDLĐ") và NLĐ;

(ii) Số giờ làm thêm tối đa không vượt quá:

- 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng (BLLĐ 2012 quy định là 30 giờ trong 01 tháng);

- 300 giờ trong 01 năm đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 107 BLLĐ và không quá 200 giờ trong 01 năm đối với các trường hợp còn lại.


Khoản 3 Điều 107 BLLĐ 2019:

“3. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:

a) Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;

b) Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;

c) Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;

d) Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;

đ) Trường hợp khác do Chính phủ quy định”.

Việc điều chỉnh tổng số giờ làm thêm trong một tháng lên 40 giờ của BLLĐ 2019 (tăng 10 giờ) giúp cho doanh nghiệp có nhiều lựa chọn trong việc sử dụng lao động, tối ưu hóa nguồn lực lao động hiện có (đặc biệt đối với doanh nghiệp thuộc khối sản xuất, những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo mùa vụ, hay gia công theo đơn đặt hàng) và nâng cao năng suất lao động tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường….


Thứ hai, làm thêm giờ trong các trường hợp đặc biệt. NSDLĐ có quyền yêu cầu NLĐ làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà KHÔNG CẦN SỰ ĐỒNG Ý CỦA NLĐ (NLĐ cũng không có quyền từ chối) và cũng không cần phải tuân thủ giới hạn tối đa về số giờ làm thêm trong các trường hợp quy định tại Điều 108 BLLĐ 2019, cụ thể là (i) Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật; (ii) Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

BLLĐ 2019 cũng giới hạn việc làm thêm giờ đối với một số đối tượng quy định tại các Điều 137, Điều 146, Điều 160. Theo đó:

- NSDLĐ không được sử dụng NLĐ làm việc ban đêm, làm thêm giờ đối với: (i) Người mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; (ii) Người chưa đủ 15 tuổi.

- NSDLĐ được phép sử dụng hạn chế NLĐ làm thêm đối với: (i) những người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi và người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng chỉ được làm thêm giờ khi được sự đồng ý của họ; (ii) Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ trong một số nghề, công việc nhất định.

2. Chính sách tiền lương làm thêm giờ

Tiền lương làm thêm giờ được quy định tại Điều 98 BLLĐ 2019 và không có sự thay đổi so với BLLĐ 2012. Vậy nên các văn bản pháp luật hướng dẫn về tiền lương theo BLLĐ 2012 vẫn được áp dụng khi BLLĐ 2019 có hiệu lực.

Căn cứ vào Thông tư 23/2015/TT – BLĐTBXH, cách tính tiền lương làm thêm giờ trong các trường hợp cụ thể như sau:

Giả định:

- T là đơn giá tiền lương thực trả cho một giờ làm việc thông thường.

- O là số giờ làm thêm

Các lưu ý:

- Nếu làm thêm trong ngày nghỉ lễ, tết, ngoài mức tiền lương làm thêm giờ thì người lao động còn được hưởng nguyên lương của ngày nghỉ có hưởng lương(lễ, tết) đó.

- Các mức 150%, 200% và 300% là mức tối thiểu so với tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, NSDLĐ và NLĐ có thể thỏa thuận cao hơn

Nhìn chung, về các quy định về thời giờ làm việc/thời gian làm thêm và tiền lương làm thêm giờ không có sự thay đổi đáng kể so với BLLĐ 2019. Tuy vậy, một vài thay đổi nhỏ như đã nêutrong bài viết này cũng ảnh hưởng nhiều đến sự tuân thủ pháp luật lao động và kế hoạch sử dụng lao động trong thời gian tới. Các doanh nghiệp cần cập nhật và điều chỉnh phù hợp với tình hình của doanh nghiệp để đảm bảo tuân thủ trong lĩnh vực lao động.


Cập nhật bởi: Trương Mỹ Duyên - Thực tập sinh

14 views

© 202LAWLINKVN Law LLC | Terms of Use